Các tài liệu tham khảo dinh dưỡng an toàn thực phẩm

Home Forums Tài liệu tham khảo Các tài liệu tham khảo dinh dưỡng an toàn thực phẩm

This topic contains 9 replies, has 3 voices, and was last updated by  Admin 1 year, 11 months ago.

  • Author
    Posts
  • #248

    Anonymous

    1. THỰC TRẠNG VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI CÁC QUÁN ĂN UỐNG CỐ ĐỊNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 5 NĂM 2004.
    2. TỈ LỆ SUY DINH DƯỠNG VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ BÀU CẠN, LONG THÀNH, ĐỒNG NAI, NĂM 2004
    3. Phương pháp vo gạo, nấu cơm truyền thống làm mất một lượng rất lớn sắt, kẽm trong cơm
    4. Những nhân tố ảnh hưởng đến nuôi con bằng sữa mẹ ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
    5. Tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi và kiến thức, thực hành nuôi dưỡng trẻ của người cha trên địa bàn 2 xã thuộc huyện Chí Linh – Hải Dương
    6. Nghiên cứu bệnh chứng về ngộ độc do ăn bánh dày tại xã Hoàng Hoa Thám, Chí Linh, Hải Dương
    7. Phần mềm phân tích và tư vấn dinh dưỡng cộng đồng
    8. Hiệu quả ăn bổ sung để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em ở nông thôn Phú Thọ
    9. Thấp còi, nhẹ cân và thiếu máu là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng trên học sinh 11-14 tuổi tại huyện Phổ Yên, Thái Nguyên

  • #249

    Anonymous

    THỰC TRẠNG VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI CÁC QUÁN ĂN UỐNG CỐ ĐỊNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 5 NĂM 2004
    Trịnh Thị Phương Thảo*, Vũ Trọng Thiện**

    TÓM TẮT
    Một nghiên cứu cắt ngang mô tả nhằm đánh giá tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) tại 202 quán ăn uống do phường quản lý trên địa bàn quận 5. Kết quả cho thấy, tỉ lệ người chế biến thức ăn có kiến thức đúng về vệ sinh môi trường (VSMT) là 44,6%, vệ sinh nguồn nước và dụng cụ là 61,9%, vệ sinh nhân viên (VSNV) là 23,3%, vệ sinh thực phẩm (VSTP) là 45,5%, ngộ độc thực phẩm là 53,5%. Về thực hành, 51% người trực tiếp chế biến có bàn tay sạch, móng tay cắt ngắn, không sơn khi chế biến thực phẩm; 87,1% không bị nấm móng tay; 28,2% không đeo nữ trang và 2% có đồng phục và bảo hộ lao động; thực hành đúng về vệ sinh cá nhân cho cả 4 yếu tố trên của người trực tiếp chế biến là 0%, Thực trạng VSATTP tại các quán ăn được xếp loại: tốt 0%, khá 24,8%, trung bình 56,9% và kém chiếm 18,3%. Do đó trong thời gian tới cần có những biện pháp nâng cao kiến thức về VSATTP, thực hành đúng thao tác về vệ sinh cá nhân và nâng cao tỉ lệ cơ sở đạt loại khá, tốt với mục tiêu hạn chế tối đa tình trạng ngộ độc thực phẩm.

    SUMMARY
    THE SITUATION OF FOOD HYGIENE AND SAFETY OF 202 FIXED EATING AND DRINKING SHOPS IN DISTRICT 5 IN 2004.
    Trinh Thi Phuong Thao, Vu Trong Thien * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 9 * Supplement of No 1 * 2005: 110 – 115
    A descriptive cross-sectional survey was performed to evaluate the situation of hygienic and safe food of 202 local eating and drinking shops in district 5. The result showed that the percentage of cooks with good knowledge of sanitation at kichen was 44.6%, water rouces and hygienic utensil was 61.9%, hygienic food was 45.5% and the percentage of food poisoning was 53.5%. With practises, there were 51% of people with clean hands, short nails and unpainted fingernails in their cooking; 87,1% and 28.2% are people without fingernail fungus and jewelry respectively; 2% of people with uniforms and aprons; the right practises of personal hygiene of cooks who had all 4 practises mentioned above was 0%. The situation of food hygiene and safety is good with 0%, fair with 24.8%, mean with 56.9% and bad with 18.3%. Consequently, we will increase knowledge of food hygiene and safety, right practise of personal hygiene and a percentage of good and fair shops in the future with the goal of minimizing the food poisoning.

    http://www.mediafire.com/?80r8lay2o57zqbl

  • #250

    Anonymous

    TỈ LỆ SUY DINH DƯỠNG VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ BÀU CẠN, LONG THÀNH, ĐỒNG NAI, NĂM 2004
    Lưu Văn Dũng* Đỗ Văn Dũng**

    TÓM TẮT
    Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 370 trẻ tại xã Bàu Cạn huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai vào tháng 7 năm 2004 nhằm xác định tỉ lệ suy dinh dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trọng của trẻ dưới 5 tuổi. Trọng lượng của trẻ được cân, cùng thời điểm phỏng vấn bà mẹ về các thông tin mẹ và dinh dưỡng trẻ. Kết quả cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng còn rất cao, cho con bú mẹ không đúng phương pháp có ảnh hưởng đến tăng trọng của trẻ. Học vấn, nghề nghiệp mẹ và cân nặng sơ sinh cũng ảnh hưởng rõ rệt đến tăng trọng của trẻ 5 năm đầu. Kết quả này tạo cơ sở khoa học cho địa phương tăng cường giáo dục truyền thông thực hành cho con bú mẹ.

    SUMMARY
    THE PREVALENCE OF MALNUTRITION AND DETERMINANTS OF MALNUTRITION AMONG UNDER 5 CHILDREN
    Luu Van Dung, Do Van Dung * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 9 * Supplement of No 1 * 2005: 147 – 151
    This is a cross-sectional survey conducted on 370 children of the Bau-Can commune of Long Thanh District, Dong Nai province in 2004 to determine the prevalence of malnutrition and determinants of malnutrition among under 5 children. The survey measured height, weight as well as collects other data of the children and their mothers. The results showed that the prevalence of malnutrition is still high and the incorrect practice of breast-feeding was related to malnutrition. Mother’s education and occupation, birth weight were also related with nutritional status of children in the first 5 years. This survey provided a sound basis for the local health authority implementing education program to promote good breast-feeding

    http://www.mediafire.com/?0rgv19nuard7ppf

  • #251

    Anonymous

    Những nhân tố ảnh hưởng đến nuôi con bằng sữa mẹ ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
    Nguyễn Thị Hiệp, Vibeke Rasch,
    Hanne Overgaard Mogensen

    Nuôi con bằng sữa mẹ không những giúp cho trẻ phát triển cả về chiều cao và cân nặng trong 6
    tháng tuổi đầu tiên nhanh hơn mà còn tạo quyền năng cho phụ nữ, góp phần vào thực hiện bình
    đẳng nam nữ. Các tác giả đã kết hợp phỏng vấn bảng hỏi 400 phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ với phương
    pháp quan sát và viết nhật ký. Những cản trở cho các bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong
    bốn đến sáu tháng đầu là phụ nữ phải gánh vác cả công việc sản xuất trong nông nghiệp và công
    việc hàng ngày trong gia đình. Các bà mẹ có khả năng kinh tế khá hơn lại thích mua sữa ngoài cho
    con ăn bổ sung. Mong muốn có bốn con, hai trai và hai gái vẫn còn và phổ biến trong nhiều gia
    đình. Các tác giả đề nghị kết hợp các chương trình nâng cao nhận thức về giới và nuôi dưỡng trẻ
    nhỏ với chương trình khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 4 đến 6 tháng đầu tiên.

    Breastfeeding not only creates favorable conditions for the physical development of infants during
    their first 6 months of age but also empowers women and contributes to the gender equality. The
    authors combined structured questionnaire for 400 child bearing age women with in-depth interviews,
    group discussions, home observation and keeping diary. The main barrier for exclusive breastfeeding
    during the first four to six months after birth is that women are overloaded with both agricultural
    production and daily housework. Well-to-do women prefer buying processed milk for supplementary
    feeding. It is still a desire and even a common desire for many families to have two sons
    and two daughters. A recommendation made by the authors is to combine various programs such as
    a program for raising the awareness on gender equity and bringing up children with a program for
    promoting the exclusive breastfeeding for all infants from 4 to 6 months after birth.

    http://www.mediafire.com/?vj6x8s6oyo1qd62

  • #252

    Anonymous

    Nghiên cứu bệnh chứng về ngộ độc do ăn bánh dày tại xã Hoàng Hoa Thám, Chí Linh, Hải Dương
    ThS. Tạ Văn Trình

    Ngộ độc thực ăn thường xẩy ra ở nước ta cũng như ơ nhiều nơi trên thế giới. Nghiên cứu ca bệnh -đối
    chứng trong một vụ dịch ngộ độc thức ăn tại xã Hoàng Hoa Thám, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
    vào 18.3.1003 với 102 người mắc bệnh do ăn các món ăn tại hai đám cưới nhằm xác định xem nguyên
    nhân nào dẫn tới vụ dịch này. Trong các món ăn, có hai món do cùng một cơ sở sản xuất là bádnh dày
    và giò. Kết quả cho thấy dánh dày do cùng một cơ sở sản xuất là nguyên nhân gây lên ngộ độc thức
    ăn, phần bánh dày lấy về làm cho khả năng mắc bệnh cao hơn ăn bánh dày tại chỗ. Cần tăng cường
    các biện pháp và trtuyền thông về an toàn thực phẩm.

    Food poisoning often occurs in Viet Nam as well as in many parts of the world. A case-control study
    was conducted on a food poisoning epidemic broke out in Hoang Hoa Tham commune, Chi Linh district,
    Hai Duong Province on March 18, 2003 with 102 guests having meals in 2 wedding ceremonies
    in order to identify causes of this food poisoning outbreak. Among dishes served in those two feasts,
    there were two similar dishes prepared by a local restaurant: rice-cake and pork pie. It was concluded
    that rice-cake from the same producer had caused the food poisoning outbreak. The incidence rate
    was found higher in those people who ate rice-cake brought home from the feasts than in those people
    consuming rice-cake on the spot. It is necessary to strengthen food safety measures and promote the
    education-communication activities for the population.

    http://www.mediafire.com/?f9h9yvj7j0qtagr

  • #273

    Admin
    Keymaster

    Phương pháp vo gạo, nấu cơm truyền thống làm mất một lượng rất lớn sắt, kẽm trong cơm
    PGS.TS. Nguyễn Xuân Ninh (*),
    TS. Trần Thị Cúc Hòa (**)
    Ảnh hưởng của các phương pháp vo gạo, dụng cụ nấu cơm khác nhau đến tỷ lệ hao hụt sắt (Fe) và
    kẽm (Zn) trong gạo (OM 4926) và cơm đã được nghiên cứu trên 10 gia đình, thuộc 6 dân tộc khác
    nhau (Sán chí, Sán dìu, Nùng, Tày, Hoa, Kinh), với 5 loại xoong nồi khác nhau (gang đúc, nhôm Hải
    phòng, nồi đồng, nồi đất, nồi cơm điện). Hàm lượng Fe, Zn trong gạo và cơm được xác định bằng
    phương pháp quang phổ hấp phụ nguyên tử.
    Kết quả cho thấy lượng Zn trong gạo sống sạch (trung bình±SD) là 12,88 ±0,01mg/kg, Fe là
    6,98±0,04 mg/kg. Hàm lượng Zn trong cơm là 5,426 ± 0,746mg/kg, Fe là 0,426± 0,291mg/kg. Lượng
    Fe, Zn mất đi (trung bình±SD) trong quá trình vo gạo, nấu cơm dao động từ 79,9 – 96,5% (86,2±
    6,7%) với Fe và 4,6% – 21,8% (13,7±6,4) với Zn.
    Truyền thông cho người dân hiểu và thực hiện một số quy trình giảm thiểu mất mát các vitamin và
    chất khoáng: không xay xát trắng quá, không nên chà xát mạnh tay khi vo gạo là cần thiết. Lượng
    mất vitamin và chất kháng trong quá trình chế biến cũng cần quan tâm khi tính toán khẩu phần dinh
    dưỡng thực tế của người dân.

    http://www.mediafire.com/?ft5l18ng533rw2u

  • #274

    Admin
    Keymaster

    Tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi và kiến thức, thực hành nuôi dưỡng trẻ của người cha trên địa bàn 2 xã thuộc huyện Chí Linh – Hải Dương
    CN. Tuấn Mai Phương, Ths.Trần Hữu Bích
    Đánh giá tình trạng dinh dưỡng (TTDD) của trẻ em dưới 5 tuổi có mẹ đi xuất khẩu lao độngXKLĐ
    nước ngoài và tìm hiểu vai trò người cha trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là những mục tiêu
    chính của đề tài. Áp dụng cách tính tuổi trẻ em theo WHO và phương pháp chọn mẫu toàn bộ 1, số
    trẻ được chọn vào nghiên cứu là 117 trẻ cùng với 99 người cha trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
    117 trẻ được tiến hành đo chiều cao và cân nặng, phân loại suy dinh dưỡng (SDD) theo WHO. Kết
    quả cho thấy tỷ lệ SDD trẻ em thể nhẹ cân là 27,3% (cân nặng/tuổi), tỷ lệ SDD thể gầy còm là 4,3%
    (cân nặng/chiều cao), tỷ lệ SDD thể thấp còi là 30,3% (chiều cao/tuổi). Kết quả phỏng vấn những
    người cha theo bộ câu hỏi về kiến thức, thực hành chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, cho thấy: tỷ lệ người
    cha biết được tác hại của SDD là 57,6%, xử trí đúng khi trẻ bị ho sốt và tiêu chảy là 82,9%và 39,4%.
    Có 7,1% người cha kết hợp bốn nhóm thực phẩm trong chế biến món ăn cho trẻ và 77,9% thực hành
    cho trẻ ăn đủ 3 bữa chính trong ngày. Thời gian dành cho các hoạt động chăm sóc trẻ của người
    cha chủ yếu là cho trẻ ăn, chơi đùa, kể chuyện với trẻ và nấu ăn cho trẻ (92,1 phút/tuần)

    http://www.mediafire.com/?0aalv8t83vt67k3

  • #275

    Admin
    Keymaster

    Phần mềm phân tích và tư vấn dinh dưỡng cộng đồng
    CN. Trần Xuân Bách, PGS. TS. Nguyễn Công Khẩn,
    TS. Lê Cự Linh

    Hiện nay tỉ lệ người thừa cân và béo phì có xu hướng gia tăng cùng với các bệnh mạn tính có liên
    quan đến dinh dưỡng như tim mạch, ung thư, cao huyết áp. Đồng thời công tác dinh dưỡng điều trị
    cũng gặp nhiều khó khăn do chỉ dựa trên những nguyên tắc chung mà chưa đưa ra được những chế
    độ ăn thích hợp nhất đối với từng bệnh nhân đa dạng. Hơn nữa công tác đánh giá dinh dưỡng ở cộng
    đồng cũng có nhiều công đoạn còn hạn chế trong tổ chức và xử lí số liệu. Đề tài này nhằm xây dựng
    phần mềm “Phân tích và tư vấn dinh dưỡng cộng đồng” với thuật toán tối ưu để đưa ra lời khuyên
    về chế độ ăn dựa vào đặc điểm cá nhân và tình trạng dinh dưỡng của từng đối tượng cụ thể. Phần
    mềm cũng thiết kế một công cụ hỗ trợ cho xử lí số liệu đánh giá dinh dưỡng tại cộng đồng, rút ngắn
    thời gian xử lí thô như hiện nay. Với việc sử dụng ngôn ngữ lập trình Borland Delphi và một số công
    cụ tin học khác, phần mềm có giao diện tiếng Việt dễ sử dụng, có lồng ghép một cấu phần “Kiến
    thức dinh dưỡng” dưới dạng sách điện tử phục vụ cho việc tham khảo, học tập, nghiên cứu cho các
    nhà dinh dưỡng, sinh viên cũng như bất kỳ người dùng nào có quan tâm.

    http://www.mediafire.com/?622j3d6m4cmhpky

  • #276

    Admin
    Keymaster

    Hiệu quả ăn bổ sung để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em ở nông thôn Phú Thọ
    TS. Từ Ngữ, Th.S. Huỳnh Nam Phương,
    KS. Phí Ngọc Quyên và cộng sự – Viện Dinh dưỡng

    Nghiên cứu can thiệp được tiến hành tại 6 xã ở tỉnh Phú Thọ nhằm đánh giá hiệu quả cải thiện tình
    trạng dinh dưỡng ở trẻ em lứa tuổi ăn bổ sung của thực phẩm tự nhiên giàu dinh dưỡng và thực
    phẩm công nghiệp có tăng cường vi chất. Toàn bộ trẻ em từ 6 đến 12 tháng tuổi ở các xã được nhận
    can thiệp dinh dưỡng dưới dạng thức ăn bổ sung (sản phẩm trên thị trường) hoặc thức ăn tự nhiên
    do gia đình mua và tự nấu. Các bà mẹ được nâng cao nhận thức về thực hành ăn bổ sung.Tình trạng
    dinh dưỡng, khẩu phần, tỷ lệ thiếu máu và thiếu Vitamin A được cải thiện đáng kể, nhóm sử dụng
    thực phẩm công nghiệp được cải thiện tốt hơn nhóm ăn thực phẩm tự nhiên.

    http://www.mediafire.com/?vwtlws70gbyaebr

  • #280

    Admin
    Keymaster

    Thấp còi, nhẹ cân và thiếu máu là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng trên học sinh 11-14 tuổi tại huyện Phổ Yên, Thái Nguyên
    **TS.Bs. Nguyễn Quang Dũng (*), Ths.BS. Nguyễn Lân (**), PGS.TS. Nguyễn Công
    Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ thấp còi, nhẹ cân và thiếu máu trên học sinh 11-14 tuổi tại huyện Phổ Yên,tỉnh Thái Nguyên.
    Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang vào tháng 11/2006 thu thập số liệu về cân nặng, chiều cao trên 2.790 học sinh (nam/nữ = 50,8%/49,2%). Xét nghiệm hàm lượng Hemoglobin huyết thanh được tiến hành trên 140 học sinh nữ. Tiêu chuẩn đánh giá thấp còi, nhẹ cân, thiếu máu dựa theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới.
    Kết quả: Tùy lứa tuổi, tỷ lệ thấp còi dao động từ 31,9-43,0% (nam) và 37,8-48,4% (nữ); tỷ lệ nhẹ cân dao động 27,5-46,0% (nam) và 30,4-36,2% (nữ). Từ 11 tới 13 tuổi, tỷ lệ thấp còi tăng 5,6%/năm (nam) và 5,3%/năm (nữ). Tỷ lệ thiếu máu trên học sinh nữ là 27,9%, cao nhất ở lứa 13 tuổi, chiếm 43,9%.
    Kết luận: Thấp còi, nhẹ cân, và thiếu máu là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng quan trọng trên học sinh trung học cơ sở tại Phổ Yên, Thái Nguyên.
    Từ khóa: Thấp còi, nhẹ cân, thiếu máu, học sinh, Hemoglobin.

    Stunting, underweight, and anaemia are the significant public health problems in secondary school children in Pho Yen district, Thai Nguyen province
    Nguyen Quang Dung, MD, PhD; Nguyen Lan, MD, MSc;A/Prof. Nguyen Cong Khan
    Objective: To assess the prevalence of stunting, underweight, and anaemia in 11-14 year-old school children in Pho Yen district, Thai Nguyen province.
    Method: A cross-sectional study was undertaken in November 2006 to collect body weight, height in 2,790 school children (male/female = 50.8%/49.2%). Serum haemoglobin concentration was collected in 140 female subjects. Stunting, underweight, and anaemia were defined according to the recommendation
    of WHO.
    Results: Depending on age groups, prevalence of stunting ranged from 1.9-43.0% (male) and 37.8-48.4% (female); prevalence of underweight ranged from 27.5-46.0% (male) and 30.4-36.2% (female). Between the age of 11 and 13 years, prevalence of stunting increased by 5.6% (male) and 5.3%/year (female). The prevalence of anaemia in female school children was 27.9%; the highest prevalence was found at the age of 13 years – 43.9%.
    Conclusion: Stunting, underweight, and anaemia are the significant public health problems in secondary school children in Pho Yen district, Thai Nguyen province.
    Keywords: Stunting, underweight, anaemia, school children, haemoglobin.

    http://www.mediafire.com/?7mjioodoj97922f

You must be logged in to reply to this topic.